Mùa lạnh – Đề phòng bệnh hen suyễn tái phát

Bệnh hen suyễn là một bệnh viêm mạn tính đường dẫn khí vào phổi, nhất là phế quản (vì vậy cũng có tên gọi là hen phế quản). Bệnh dễ tái phát, xảy ra quanh năm với nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng đặc biệt là lúc thời tiết thay đổi, lúc chuyển mùa (gió mùa, áp thấp nhiệt đới…).

Tại sao có cơn hen suyễn?

Hen suyễn là một quá trình bệnh lý mà thường có hai hiện tượng luôn xảy ra ở phế quản cũng như ở đường dẫn khí của phổi:

- Hiện tượng thứ nhất là gây co thắt đường dẫn khí: Khi lên cơn hen suyễn, các cơ trơn xung quanh đường dẫn khí bị co cứng lại làm siết chặt các đường dẫn khí vào các phế nang làm cản trở sự di chuyển của không khí cả đi vào và đi ra của phổi. Sự co thắt các phế quản này hay được gọi là co thắt phế quản và gây triệu chứng ho.

- Viêm phế quản: Viêm phế quản là một hiện tượng gần như xảy ra thường xuyên ở bệnh nhân hen suyễn.Viêm xảy ra trong hen suyễn thường đi kèm sưng nề phế quản và xuất tiết nhiều chất nhày (đờm, dãi). Sự tăng tiết này sẽ làm tắc nghẽn đường dẫn khí vào phổi nhiều hay ít còn tùy thuộc vào mức độ nặng, nhẹ của bệnh. Dù nhẹ hay nặng thì khi ho đều có biểu hiện của sự tiết chất nhày nghe lọc xọc như tiếng ho của viêm phế quản mạn tính, giãn phế quản của người nghiện thuốc lá, thuốc lào. Nếu hiện tượng viêm và tiết nhày nhiều có thể làm tắc nghẽn đường dẫn khí kèm theo co thắt phế quản gây hiện tượng khò khè, co kéo các cơ hô hấp làm co kéo các rãnh liên sườn gây nặng ngực, khó thở dữ dội cần phải cấp cứu kịp thời nếu không sẽ nguy hiểm đến tính mạng.

Người bị hen nên tránh các dị nguyên.

Những căn nguyên nào dẫn đến bệnh hen suyễn?

Có rất nhiều yếu tố thuận lợi hoặc là căn nguyên chính của hen suyễn:

- Yếu tố cơ địa: Nhiều trường hợp bị hen suyễn là do cơ địa. Người ta thấy có khoảng từ 30-60% trẻ em bị chàm (eczema) sau này có thể bị hen suyễn.Viêm mũi dị ứng, viêm phế quản co thắt, thể tạng tăng tiết dịch cũng rất có thể bị mắc bệnh hen suyễn.

- Di truyền, yếu tố gia đình: Người bị hen suyễn có thể do di truyền, trong gia đình cũng có người mắc các bệnh dị ứng như mề đay, mẩn ngứa, dị ứng thời tiết, viêm mũi dị ứng theo mùa, đặc biệt là bố, mẹ hoặc cả hai có bệnh hen suyễn.

- Các dị nguyên như bụi, lông chó, mèo, phấn hoa, khói bếp, khói thuốc, thời tiết thay đổi thất thường, lạnh (mùa lạnh thường hay tái phát bệnh hen suyễn ở người bệnh suyễn mạn tính); một số thuốc chữa bệnh (Đông y, Tây y); vi sinh vật có trong không khí (vi khuẩn, virut, nấm mốc). Hiện nay người ta cũng đề cập nhiều đến vai trò của nấm mốc, cũng có thể là một trong các yếu tố nguy cơ gây hen suyễn hoặc làm tái phát bệnh hen suyễn.

- Rượu, bia, các loại nước giải khát có cồn cũng là nguy cơ làm tái phát bệnh hen suyễn.

- Một số loại thực phẩm cũng được nhắc đến trong nguy cơ gây hen suyễn tái phát như tôm, cua ốc…

(Theo SK&ĐS)

Phòng tránh các bệnh hô hấp khi thời tiết lạnh

Bình thường khi hít thở, không khí được sưởi ấm và lọc sạch một phần bởi niêm mạc đường hô hấp trên như: niêm mạc mũi-họng, trước khi đi vào đường hô hấp dưới (khí, phế quản, phế nang). Khi cơ thể bị nhiễm lạnh, bộ phận hô hấp đầu tiên bị ảnh hưởng là đường hô hấp trên gây nên viêm mũi, họng, xoang… từ đó, nhiễm trùng có thể lan xuống đường hô hấp dưới gây viêm khí, phế quản và phổi rất nguy hiểm.

Đường hô hấp dưới (từ phía dưới thanh quản trở xuống đến phế nang) thường là vô khuẩn, vì nó chứa 2 loại kháng thể là IgA và IgG, 2 kháng thể này có tác dụng: diệt vi khuẩn, siêu vi khuẩn, khử độc tố của chúng. Cơ chế bảo vệ này giúp cho cơ thể nói chung, đặc biệt là niêm mạc đường hô hấp dưới nói riêng không bị nhiễm lạnh. Nếu bị nhiễm lạnh thì 2 loại kháng thể IgA và IgG giảm và mất hiệu lực, lúc này các loại vi khuẩn và siêu vi khuẩn từ đường hô hấp trên tràn xuống và gây viêm nhiễm đường hô hấp dưới, phát sinh các bệnh viêm thanh quản, viêm khí phế quản và viêm phổi. Để phòng tránh các bệnh này cần chú ý một số điểm sau:

Tránh bị nhiễm lạnh

Mặc ấm khi ra ngoài, đeo khẩu trang, đội mũ, quàng khăn ấm khi đi ra đường, đặc biệt là những người làm việc ngoài trời. Khi không có việc thật cần thiết thì không nên đi ra ngoài trời lúc sáng sớm hoặc đêm khuya vì lúc đó trời lạnh hơn. Khi đi xe đạp và nhất là đi xe máy nên đội mũ bảo hiểm loại che kín được cả đầu lẫn mặt, cằm để tránh lạnh gây nhiễm trùng đường hô hấp trên như viêm mũi, họng. Trong nhà cần đóng kín các cửa, các khe, lỗ hở tránh gió lùa. Nếu có điều kiện thì dùng lò sưởi, nhất là các gia đình có trẻ nhỏ vì khả năng chịu lạnh của các cháu kém. Tuy nhiên, cần tránh các kiểu sưởi bằng lò than sẽ gây ngộ độc khí CO2 rất nguy hiểm. Các gia đình có điều kiện dùng điều hòa nhiệt độ cũng không nên để nhiệt độ trong phòng ngủ quá thấp, nhất là đối với những trẻ hàng ngày vẫn đi học hoặc người lớn đi làm, vì khi chênh lệch nhiệt độ trong và ngoài nhà quá lớn sẽ dễ bị viêm đường hô hấp trên. Thông thường nên để khoảng 25 – 27oC.

Ảnh minh họa

Điều trị sớm và triệt để

Khi bị viêm nhiễm đường hô hấp trên, cần điều trị sớm và triệt để tránh nhiễm trùng lan xuống phế quản, phổi. Ví dụ như khi trẻ bị viêm mũi thì mũi của trẻ bị chất tiết làm tắc, trẻ sẽ thở bằng mồm, như vậy không khí trẻ hít thở vào khí quản, phổi sẽ không được sưởi ấm và lọc sạch như trẻ thở bằng mũi bình thường nên trẻ rất dễ bị viêm phế quản, viêm phổi với diễn biến nhanh, nặng. Vì vậy, việc đầu tiên cần làm là khai thông đường hố hấp trên của trẻ bằng cách rửa mũi cho trẻ bằng nước muối sinh lý natriclorua 9‰: cho trẻ nằm nghiêng, đầu kê một chiếc khăn mặt bông to, bơm nhỏ dung dịch với nước muối sinh lý (hoặc phun xịt nếu có loại chế phẩm đóng trong bình xịt áp lực) vào lỗ mũi ở phía trên dần dần sao cho dịch chảy đẩy các chất tiết trong lỗ mũi ra lỗ mũi ở phía dưới. Khi thấy dịch mũi chảy ra thì lấy khăn giấy hoặc khăn vải mềm lau sạch, hoặc hút nhẹ dịch, chất tiết ra. Với các cháu nhỏ thường ban đầu các cháu sợ nên giãy giụa, cần có một người giữ chặt các cháu để khỏi giãy, một người bơm nước muối vào mũi. Nếu không có người giúp thì có thể lấy miếng vải, chăn hoặc ra trải giường quấn dọc người cháu, cuộn cả chân tay để cháu không giãy. Với các cháu đã biết hỉ mũi, cho cháu ngồi dậy hỉ mũi ra khăn giấy. Đối với người lớn cũng cần làm sạch mũi bằng cách tương tự.

Tránh các thói quen xấu

Như hút thuốc lá thuốc lào. Hút thuốc làm giảm sức đề kháng của niêm mạc đường hô hấp. Khi hút thuốc, các lông chuyển trên bề mặt các tế bào biểu mô phế quản bị tê liệt, chuyển động rối loạn không đẩy chất nhầy lên được, các tế bào bảo vệ khác như các tế bào bạch cầu, đại thực bào cũng hoạt động không hiệu quả làm cho ta dễ bị nhiễm trùng. Khói thuốc không chỉ ảnh hưởng tới người hút mà còn ảnh hưởng tới cả những người xung quanh nếu hít phải khói thuốc, đặc biệt là trẻ nhỏ, vì vậy không nên hút thuốc trong nhà.

Nghiện rượu cũng làm giảm sức để kháng của cơ thể, khi uống rượu người ta có cảm giác nóng nên thường cởi bớt quần áo, khăn mũ nên dễ bị nhiễm lạnh, dễ bị nhiễm trùng phế quản, phổi. Chưa kể các trường hợp uống rượu say quá nôn ra thức ăn, trong lúc nôn người đó dễ bị sặc các thức ăn, chất dịch dạ dày vào phế quản gây viêm phổi nặng.

Tăng cường sức đề kháng

Viêm phổi có xu hướng nặng hơn ở người trên 65 tuổi, hoặc ở những người mắc bệnh mạn tính như: đái tháo đường, các tình trạng bệnh lý khiến bệnh nhân phải nằm lâu, những người có tổn thương cấu trúc phổi-phế quản như: bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, giãn phế quản, xơ phổi… Do vậy, ở những bệnh nhân này, cần nâng cao sức đề kháng bằng việc tập thể dục đều đặn, tuân theo chế độ điều trị bệnh đang mắc. Ở những bệnh nhân nằm lâu, cần thay đổi tư thế thường xuyên kết hợp với vỗ rung lồng ngực. Tiêm phòng cúm hàng năm, tiêm vaccine phế cầu, vaccine phòng vi khuẩn haemophilus cho trẻ em, người trên 65 tuổi, nhất là người có mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, bệnh tim, đái tháo đường, bệnh gan hoặc suy giảm miễn dịch. Có thể dùng một số thuốc tăng cường miễn dịch nhằm gia tăng sức đề kháng của niêm mạc đường hô hấp.

Duy trì chế độ dinh dưỡng đủ năng lượng, cân đối để có sức chống lạnh.

Thường xuyên bảo đảm vệ sinh răng miệng, giữ đều nếp đánh răng sau khi ăn và trước khi đi ngủ để tránh nhiễm trùng răng miệng. Điều trị triệt để các ổ nhiễm khuẩn ở răng, hàm, miệng, tai, mũi, họng để tránh vi khuẩn lan xuống đường hô hấp dưới.

Tất cả mọi người khi phát hiện mình có các dấu hiệu khác thường như: ho, sốt, khạc đờm, khó thở, đau ngực… phải tới gặp bác sĩ để được xác định bệnh và điều trị kịp thời, tránh không để bệnh tiến triển nặng gây các biến chứng nguy hiểm.

(Theo SK&ĐS)

Khi bị cảm lạnh

Có tới gần 200 căn bệnh được gọi cái tên chung là cảm lạnh. Nguyên nhân gây bệnh là những virut – những sinh vật sống rất nhỏ được truyền từ người bệnh sang người khỏe trong những giọt chất nhầy bắn ra khi ho, hắt xì hơi, thậm chí cả khi nói chuyện. Virut thâm nhập vào cơ thể sẽ tấn công bên trong các tế bào đường hô hấp trên và hủy hoại chúng.

Đứng đầu (về tần số và số lượng) trong số những căn bệnh cảm lạnh là bệnh cúm và những chứng bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp cấp tính và chiếm 95% tất cả những căn bệnh nhiễm trùng.

Thường xuyên bị cúm và những chứng bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp cấp tính sẽ làm tổn hại hệ tim mạch, giảm tuổi thọ trung bình của con người một vài năm. Sau khi bệnh thuyên giảm, hệ miễn dịch cũng yếu đi, cho nên hàng năm mỗi người có thể bị nhiễm khuẩn đường hô hấp cấp tính nào đấy từ 3-4 lần hoặc nhiều hơn.

Những dấu hiệu đầu tiên của nhiễm khuẩn đường hô hấp cấp tính là sốt (trên 37 độ C), nhiễm độc (suy nhược, uể oải, buồn nôn, đau đầu, đau trong bắp thịt), rồi sau đó tiến tới đau họng, ho, hắt hơi, sổ mũi.

Để đảm bảo khỏi bệnh nhanh cần được điều trị bệnh kịp thời. Không phải lúc nào cũng có thể điều trị khỏi bệnh bằng các phương pháp y học dân tộc, cho nên để giảm nhẹ những triệu chứng cảm lạnh, cần phải uống thuốc. Thực tế cho thấy nếu bệnh không được điều trị đến nơi đến chốn thì không tránh khỏi biến chứng và có thể trở nên khá nguy hiểm.

Cần lựa chọn thuốc dựa vào tính hiệu quả và an toàn cho cơ thể

Ngâm chân trong nước nóng có mù tạc trong vòng 10 phút, uống nước ép củ cải với mật ong, nước sắc hoa tú cầu (1 thìa hoa tú cầu cho vào nước đun sôi nhỏ lửa chừng 10 phút, rồi uống mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 1 thìa to) giúp điều trị tốt chứng cảm lạnh. Ngoài ra, xúc họng bằng nước hãm cây mẫu thảo, hoa xôn hoặc nước sắc từ hỗn hợp lá cây hoa xôn, hoa miên quì rừng và hoa cây cơm cháy vào buổi sáng và ban đêm cũng có tác dụng chữa bệnh.

Để khắc phục chứng sổ mũi, có thể hít bột cà phê đã rang với chất hỗn hợp menton, lần lượt cho tia nước vòi hoa sen chảy vào vùng gốc mũi (cứ 5 phút dùng nước nóng, rồi 5 phút nước lạnh) và cuối cùng là tắm nước nóng.

Khi bị ho nặng nên dùng liệu pháp thực vật: Hoa cây cơm cháy, hoa cây đay mỗi loại 2 phần, vỏ cây liễu 3 phần, hoa mẫu đơn, rễ cam thảo, hoa mẫu thảo bán trong hiệu thuốc – mỗi loại 1 phần, rồi đem nghiền nhỏ tất cả. Lấy 2 thìa bột hỗn hợp này hòa với 0,5 lít nước đun sôi và hãm chúng 15 phút, sau đó lọc bỏ bã và uống ở dạng ấm trong cả ngày.

Nếu cảm lạnh dẫn đến viêm phế quản thì nhất thiết phải đến bác sĩ khám bệnh. Khi bị cảm lạnh nên ăn tỏi và hành nhiều hơn, buổi tối nên uống trà bạc hà, quả phúc bồn tử đen, trái dâu tây. Đồng thời, uống sữa nóng với mật ong hoặc nước xô đa, nước khoáng cũng rất tốt cho việc điều trị bệnh.

(Theo SuckhoeNga)

Phòng bệnh mùa đông – xuân

Mùa đông – xuân với thời tiết lạnh và ẩm, sức đề kháng của cơ thể suy giảm, nhất là ở người cao tuổi và trẻ em, người lao động ngoài trời mưa rét nên các loại bệnh dễ bùng phát, đặc biệt là bệnh đường hô hấp.

Chú ý phòng bệnh ở cơ quan hô hấp

Các bệnh phổi dễ trở nặng về mùa lạnh thường gặp là:

Hen phế quản: những người có cơ địa dị ứng rất dễ bị hen do phế quản của họ rất nhạy cảm với mọi kích thích gây bệnh như phấn hoa, bụi sinh vật, nấm, mốc, vi khuẩn, hóa chất, bụi vô cơ… hay những thay đổi của môi trường bên trong cơ thể do ảnh hưởng của lạnh, ẩm. Hen phế quản có các thể bệnh gây nguy hiểm như: thể khó thở kịch phát hay gặp ở trẻ nhỏ; thể khó thở liên tục xuất hiện ngay từ khi khởi bệnh, gặp ở bệnh nhân có tiền sử hen mạn tính; thể hen có tràn khí màng phổi dễ xảy ra ở người phế nang đã bị giãn; thể hen ác tính, hen do sử dụng thuốc aspirin; thể hen có cơn tăng huyết áp kèm theo.

Để phòng bệnh hen chủ yếu là phải loại trừ được các yếu tố gây bệnh như: tránh lạnh bằng cách mặc quần áo ấm, giữ ấm vùng cổ, ngực; tránh bụi bặm, vi sinh vật, nấm mốc, phấn hoa… bằng cách dùng khẩu trang che mũi, miệng khi đi ra ngoài. Nếu bị hen cần đưa bệnh nhân đến bệnh viện để được điều trị kịp thời, hiệu quả, cắt được cơn hen trong thời gian ngắn nhất, không để cơn hen phát triển thành ác tính.

Viêm phế quản cấp: mầm bệnh gây viêm phế quản mùa đông – xuân thường là virut cúm influenza A và B, các virut parainfluenza, virut hợp bào hô hấp, virut hạch, virut đường mũi và các loại khác. Phòng bệnh chủ yếu là giữ ấm cơ thể cả lúc thức cũng như khi ngủ, người cao tuổi và trẻ em nên tránh ra ngoài trời lạnh và gió rét; ăn uống đầy đủ để nâng cao sức đề kháng của cơ thể.

Đợt cấp của tâm phế mạn

Tâm phế mạn là bệnh tim do các bệnh phổi mạn tính như viêm phế quản mạn tính, hen phế quản, giãn phế quản, giãn phế nang, lao phổi… gây ra. Diễn biến hay gặp là bệnh tim đột ngột trở nặng khi gặp thời tiết giá lạnh. Bệnh nhân khó thở nhiều, sau vài đợt cấp dễ nguy hiểm đến tính mạng. Do đó việc phòng tránh đợt cấp của tâm phế mạn mùa lạnh là vấn đề sống còn, người bệnh phải được biết rõ và tự bảo vệ mình bằng cách giữ ấm, ăn uống đầy đủ, tránh ăn thức ăn lạnh, không tắm nước lạnh, kiêng ra gió và tránh bị mưa ướt… Đặc biệt phải chuẩn bị thuốc dự phòng để sử dụng khi bệnh trở nặng theo chỉ định của bác sĩ.

Giãn phế quản ướt: (giãn phế quản xuất tiết): có tỷ lệ bệnh cao nhất, bệnh nhân ho khạc nhiều đờm, nguyên nhân thường do nhiễm khuẩn. Lạnh là yếu tố kích thích phế quản xuất tiết nhiều niêm dịch, do niêm dịch ứ đọng trong các phế quản tạo môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát triển. Phòng bệnh này cần chú ý chống lạnh, chống nhiễm khuẩn, ăn uống đầy đủ để nâng cao thể trạng.

Áp – xe phổi: nếu các bệnh viêm phổi, giãn phế quản bội nhiễm mùa lạnh không được điều trị tích cực sẽ biến chứng thành áp xe phổi. Vi khuẩn gây bệnh thường gặp là: S. pneumoniae, H.influenzae. Ở trẻ em, áp – xe phổi thường do tụ cầu. Với biến chứng áp – xe phổi, điều trị nội khoa tích cực mà không kết quả, cần kết hợp giải quyết bằng phẫu thuật. Phòng bệnh nên mặc ấm, giữ kín cổ; nhà ở phải kín cửa, có thể xông hơi bằng hương liệu hoặc đốt quả bồ kết, vỏ bưởi khô cho không khí thơm, nhẹ, ấm áp; khi ra khỏi nhà nên đeo khẩu trang tránh không khí lạnh vào mũi, miệng.

Lao phổi: thường nặng lên trong mùa lạnh nếu không được chăm sóc, điều trị tốt. Tổn thương lao thường lan rộng, phá hủy nhu mô phổi nhiều, lao làm cho thể tạng bệnh nhân gầy yếu, suy kiệt. Ngoài bệnh lao sẵn có, mùa lạnh bệnh nhân còn có thể bị bội nhiễm vi khuẩn S.pneumoniae, H.influenzae. Mùa đông – xuân thường có tỷ lệ tràn dịch màng phổi cao, chủ yếu do bị lao. Trường hợp tràn dịch nhiều có biểu hiện ép phổi và các tạng trong lồng ngực, bệnh nhân phải được điều trị tại bệnh viện, khẩn trương chọc tháo dịch để tránh tai biến ép tạng, suy hô hấp, dày dính màng phổi, đóng vôi màng phổi. Vì vậy, cách phòng bệnh tốt nhất là tích cực điều trị lao theo phác đồ đang sử dụng đối với từng bệnh nhân, ăn uống đầy đủ, mặc ấm, tránh bị nhiễm lạnh.

Bệnh cúm gia tăng về mùa lạnh

Mùa đông – xuân lạnh và ẩm là điều kiện thuận lợi cho bệnh cúm hoành hành. Bệnh lây qua đường hô hấp nên dễ lây lan qua tiếp xúc trực tiếp, nhất là trong điều kiện tập trung đông người như hội họp, trường học, chợ, siêu thị. Tiêm vaccin có tác dụng phòng một số bệnh cúm; góp phần phòng chống cúm H5N1 ở người. Một người đã tiêm phòng bệnh cúm thông thường, nếu mắc thêm cúm H5N1 sẽ không quá lo ngại bởi có thể điều trị khỏi nếu được phát hiện sớm.

(Theo SK&ĐS)

Viêm phổi do S.pneumoniae

S. pneumoniae là một tác nhân gây bệnh nguy hiểm đối với nhiều bộ phận của cơ thể, trong đó viêm phổi, màng phổi là bệnh nghiêm trọng có thể gây tử vong. Đặc biệt trong mùa đông giá rét, bệnh viêm phổi loại này càng có nguy cơ phát triển.

Các yếu tố nguy cơ gây bệnh

Nhiều nghiên cứu cho thấy S. pneumoniae là vi khuẩn gây bệnh chính ở người, trong đó viêm phổi hay gặp nhất ở trẻ em và người cao tuổi cũng như đại đa số người lớn bị viêm phổi. Hầu hết những người bị viêm phổi loại này đều bị nhiễm virut trước đó làm giảm sức đề kháng. Những người nghiện rượu, suy dinh dưỡng, bệnh phổi mạn tính, hút thuốc lá, nhiễm HIV, đái tháo đường, xơ gan, thiếu máu, suy thận, bệnh mạch vành, khí hậu giá rét làm giảm sức đề kháng là yếu tố nguy cơ nhiễm bệnh đều có nguy cơ nhiễm pneumoniae.

Biểu hiện bệnh

Các triệu chứng thường gặp ở bệnh nhân viêm phổi do Pneumococcus là: ho và khạc đờm; sốt; có hình ảnh thâm nhiễm trên phim Xquang. Bệnh nhân thường có một bệnh lý hô hấp trước, sau đó bệnh tiến triển xấu đi rõ rệt. Bệnh nhân có vẻ đau yếu và sắc diện hơi xám, lo lắng khác với bệnh nhân bị viêm phổi do các nguyên nhân khác. Sốt 38,9-39,4oC, mạch 90-110 nhịp/phút, thở nhanh. Khám phổi: Đau có thể làm giảm cử động hô hấp phía phổi bị bệnh; gõ độ trong giảm khoảng 50% số trường hợp, và rung thanh tăng. Nghe phổi có thể thấy kiểu thở ống hoặc thở khí quản, và tiếng ran nổ trong hầu hết các trường hợp. Nếu gõ đục ở đáy phổi và không thấy được mức độ di động của cơ hoành gợi ý có dịch màng phổi, hay có mủ màng phổi. Nếu bệnh nhân có tiền sử viêm phế quản mạn tính, ho có nhiều đờm màu vàng hay xanh lá cây và đặc hơn bình thường, sốt cao hơn trong vòng 48-72 giờ. Một số ít trường hợp, bệnh nhân đột ngột rét run, rồi sốt và ho có đờm lẫn máu. Ở người cao tuổi, bệnh khởi phát âm thầm và thường không có gợi ý nào nghĩ đến viêm phổi: có thể không sốt hoặc sốt nhẹ. Cần chú ý rằng nhiệt độ giảm thường liên quan với tăng tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong. Những người trong độ tuổi 80, biểu hiện bệnh chỉ là các dấu hiệu: ho ít, không đờm và không sốt, có vẻ mệt mỏi hay lú lẫn. Đôi khi gặp diễn tiến bất ngờ ở bệnh nhân đã cắt lách: có thể từ tình trạng sức khỏe tốt đến tử vong chỉ trong vòng 24 giờ. Các triệu chứng khác có thể có là: đau ngực kiểu màng phổi có thể do viêm lan rộng tới lá tạng của màng phổi, đau kéo dài; buồn nôn và nôn; tiêu chảy xảy ra ở 20% các trường hợp. Như vậy triệu chứng thì nhiều nhưng không có biểu hiện đặc trưng nào giúp phân biệt viêm phổi do Pneumococcus với các loại viêm phổi do vi khuẩn khác.

Xquang phổi có thể gặp các tổn thương ở một phân thùy phổi hay đa thùy hay thấy đông đặc phế nang; khoảng 50% số trường hợp có tràn dịch màng phổi. Cấy đờm, cấy máu có thể thấy Pneumococcus.

Điều trị như thế nào?

Vấn đề quan trọng trong điều trị viêm phổi là phải lấy mẫu đờm để tìm vi khuẩn gây bệnh. Kháng sinh được khuyến cáo gồm ceftriaxon, cefotaxim, ampicillin, quinolon, azithromycin, clindamycin… Bệnh nhân dị ứng nặng với các kháng sinh b-lactam nên dùng vancomycin hoặc quinolon. Biến chứng thường gặp nhất trong viêm phổi do Pneumococcus là viêm mủ màng phổi chiếm khoảng 2% số trường hợp do vi khuẩn đến khoang màng phổi theo đường máu, lây lan trực tiếp hoặc qua hệ bạch huyết. Điều trị cần mở ngực, dẫn lưu tích cực làm giảm tỷ lệ tử vong.

Phòng bệnh

Dùng vaccin ở người dưới 55 tuổi, tỷ lệ bảo vệ đạt ít nhất 85% hơn 5 năm sau chủng ngừa. Mức độ và thời gian bảo vệ giảm theo tuổi. Nên chủng ngừa cho tất cả trẻ trên 2 tuổi, hoặc nhóm nguy cơ cao gồm: người trên 65 tuổi; người đã cắt lách; đái tháo đường; nghiện rượu; xơ gan; suy thận mạn tính; bệnh phổi mạn tính hay bệnh tim mạch tiến triển; suy giảm miễn dịch, như đa u tuỷ, u bạch huyết, bệnh Hodgkin, nhiễm HIV, ghép cơ quan, dùng glucocorticoid kéo dài…

(Theo SK&ĐS)

Phòng ngừa hen phế quản kịch phát

Hen là bệnh mạn tính rất thường gặp, nhất là ở trẻ em. Để phòng ngừa các cơn hen phế quản kịch phát, bệnh nhân cần tránh các yếu tố có thể gây khởi phát cơn hen như khói thuốc, không khí ôn nhiễm, hoặc các mùi khó chịu, mùi hóa chất…Bệnh nhân cần được giữ ấm trong mùa lạnh và tránh mắc phải các bệnh nhiễm khuẩn hô hấp như viêm họng, viêm phế quản…mà tác nhân thường gây bệnh nhất là do vi khuẩn phế cầu.

Trong các trường hợp hen phế quản nặng, lâu ngày, bệnh hen có thể diễn tiến thành bệnh phổi mạn tính. Đối với các bệnh nhân này, ngoài các biện pháp dự phòng kể trên, cần thiết phải được tiêm vaccine ngừa phế cầu. Loại vaccine này có chứa khoáng nguyên của 23 phân nhóm vi khuẩn phế cầu khác nhau, giúp bảo vệ tránh lây nhiễm từ 85-90% phân nhóm vi khuẩn gây bệnh.

Ngoài các trường hợp bệnh phổi mạn tính trên, vaccine này cũng được Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo nên tiêm ngừa cho nhiều đối tượng có nguy cơ cao nhiễm vi khuẩn phế cầu, đó là người trên 65 tuổi, người có bệnh mạn tính như đái tháo đường, bệnh tim, thận hoặc gan mạn tính, nghiện rượu hoặc suy yếu hệ miễn dịch…Bệnh nhân có thể đến Viện Pasteur TP.HCM, trung tâm y tế dự phòng các tỉnh thành, quận huyện để được tư vấn và tiêm ngừa.

(Theo PN)

Bệnh bụi phổi silic có chữa được không?

PGS Lê Thị Tuyết Lan – Bệnh viện (BV) Đại học Y dược TP.HCM – cho biết đầu tháng 3, BV tiếp nhận sáu bệnh nhân là người đào vàng ở xã Bình Trị, Thăng Bình, Quảng Nam đến khám "bệnh lạ" như báo đưa tin hồi tháng 2. Các bệnh nhân có một số triệu chứng bệnh điển hình như khó thở, ho, đàm nhớt, có người ho ra máu.

Các bác sĩ cho làm hàng loạt xét nghiệm (miễn phí), hội chẩn với kết quả năm người bị bệnh bụi phổi silic và đều có tiên lượng bệnh kém.

Theo PGS Tuyết Lan, tác nhân gây bệnh bụi phổi silic là silic tự do (SiO2). Bệnh xuất phát âm thầm, hầu như không có triệu chứng lâm sàng nào trong những năm đầu, nhưng nếu chụp x-quang phổi có thể thấy dấu chứng bệnh.

Bệnh không có thuốc đặc hiệu, chỉ có thể chữa trị triệu chứng."

Bệnh nhân có triệu chứng chính là khó thở. Lúc đầu chỉ khó thở khi gắng sức, nhưng về sau có thể khó thở liên tục và đôi khi khó thở dạng suyễn (có co kéo lồng ngực và nghe thở khò khè). Sau đó bệnh nhân bị ho, lúc đầu ho khan, về sau ho có đàm. Triệu chứng ho phụ thuộc vào người bệnh và thời tiết (dễ ho khi thời tiết lạnh và ẩm thấp). Với những người hút thuốc lá nhiều hay có tiền sử bệnh phổi, ho thường hơn.

Kế tiếp bệnh nhân có khạc đàm. Lúc đầu khạc ít, đàm trắng trong, về sau đàm có mủ vướng máu, đôi khi ho ra máu. Từ từ bệnh nhân có cảm giác bị tức ngực, thường gặp ở phần dưới ngực, rất khó chịu và có cảm giác như ngực bị bó chặt. Tổng trạng bệnh nhân lúc đầu bình thường. Về sau mệt, sốt nhẹ. Khám lồng ngực thấy như bị "hàn cứng", không giãn nở theo nhịp hô hấp, trừ khi hít mạnh vào, lồng ngực như dày lên…

Diễn tiến bệnh bụi phổi silic thường âm thầm, từ từ và kéo dài nhiều năm, không thể hồi phục được. Bệnh không có thuốc đặc hiệu, chỉ có thể chữa trị triệu chứng, giúp bệnh nhân bớt khó thở, bớt ho, nhiễm trùng (nếu có). Về lâu dài khi bệnh nhân bị suy hô hấp nặng phải hỗ trợ thở oxy.

Người bị bệnh bụi phổi silic có thể chết trong vòng 10-20 năm sau khi khởi bệnh. Tuy nhiên, bệnh nhân chết thường không do bệnh bụi phổi silic mà đa số là do biến chứng của bệnh như dễ bị bệnh lao, dễ bị viêm phổi; giãn phế quản, viêm phế quản, viêm mủ màng phổi; tràn khí màng phổi, khí thủng phổi, hoại tử vô khuẩn; tim giãn nở, tim đập nhanh, suy tim, tổn thương mạch vành…

Bệnh bụi phổi silic được phân loại làm ba thể: mãn tính (mắc bệnh sau 15-20 năm tiếp xúc với bụi silic); bán cấp tính (sau 5-10 năm); cấp tính (dưới 5 năm). Theo PGS Tuyết Lan, năm bệnh nhân ở Quảng Nam đều ở dạng cấp tính vì họ bị mắc bệnh rất sớm, chỉ sau 2-3 năm tiếp xúc với bụi silic. Điều này cho thấy hằng ngày các bệnh nhân này đã tiếp xúc với khối lượng bụi khổng lồ, có hàm lượng silic đậm đặc. Bụi silic khi mới được tạo ra từ khoan đá thường rất bén (sắc), dễ xâm nhập phổi.

Theo PGS Tuyết Lan, các bệnh nhân bụi phổi silic này đều là nông dân. BV đã mời Trung tâm Giám định y khoa TP.HCM cùng hội chẩn và giám định bệnh nghề nghiệp với mong muốn những người lao động này được bồi thường nhưng không thể do bệnh nhân không có hợp đồng lao động, không có bảo hiểm xã hội.

(Theo TTO)

Powered by Blogger